“Từ khi có cơ chế đấu thầu, tỷ lệ thuốc nội vào các bệnh viện tăng mạnh. Nếu như năm 2013 chỉ có 15%, thì đến 2016 tăng lên 27,1% và 2017 là gần 29%.

So với mức trung bình của 6 nước trong khu vực, giá thuốc generic của Việt Nam thấp hơn tới 33%…” – đây là thông tin được Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam chia sẻ khi phân tích 2 nghị quyết trong lĩnh vực y tế tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 6 diễn ra cuối tuần qua.

Gia tăng tỷ lệ thuốc nội vào bệnh viện

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho hay, trong y tế, lĩnh vực dược là vấn đề rất lớn. Thị trường dược Việt Nam có quy mô tới 4,2 tỷ USD/năm, chi bảo hiểm y tế (BHYT) gần 40.000 tỷ đồng, chiếm 41% chi BHYT và 49,7% tổng chi y tế. Để ổn định giá thuốc, 5 năm qua, Việt Nam đã kiên trì đấu thầu thuốc tập trung.

Theo Phó Thủ tướng, đây là cuộc cọ sát rất lớn về lợi ích. Trước đây cho đấu thầu từng bệnh viện, sau đó Bộ Y tế yêu cầu đấu thầu tập trung ở các tỉnh. Rất nhiều nơi không hài lòng, nhưng bằng số liệu cho thấy trung bình mỗi năm giảm hơn 10%, 3 năm qua trị giá tiền mua thuốc đã giảm 35%.

Giá thuốc ở Việt Nam thấp hơn nhiều nước trong khu vực.

Phó Thủ tướng cũng chia sẻ thông tin, ngay năm 2017, mới đấu thầu đợt 1 với 21 loại thuốc dùng nhiều nhất đã giúp giảm hơn 16,4% giá thuốc. Từ khi có cơ chế đấu thầu, tỷ lệ thuốc nội vào các bệnh viện tăng mạnh. Nếu như năm 2013 chỉ có 15% thuốc nội vào bệnh viện, thì đến 2016 tỷ lệ này tăng lên 27,1% và 2017 là gần 29% thuốc nội đã được sử dụng trong các bệnh viện.

Riêng với mặt hàng thuốc biệt dược, Phó Thủ tướng cho biết, vừa qua đã điều chỉnh, bổ sung quy định, yêu cầu đấu thầu các thuốc biệt dược gốc đã hết hạn bản quyền có từ 2 số đăng ký trở lên. Điều này có thể giúp tiết kiệm 3.000 tỷ đồng/năm. Sắp tới, sẽ tiếp tục thí điểm đàm phán giá đối với 139 danh mục biệt dược gốc đã có nhiều thuốc generic thay thế.

“So với mức trung bình của 6 nước trong khu vực, giá thuốc generic của Việt Nam thấp hơn tới 33%. Trong khi tại Indonesia, Philippines cao hơn từ 20 – 70%; Thái Lan cao hơn 4% và Singapore cao hơn 19%. Ngoại trừ thuốc ung thư của Việt Nam (chiếm hơn 10%) đang cao hơn khoảng 3%, do nhiều loại thuốc chưa được BHYT chi trả” – Phó Thủ tướng nói.

Cũng theo Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, giải pháp lâu dài với thị trường dược Việt Nam là khuyến khích sử dụng sản phẩm trong nước; tăng cường đấu thầu tập trung, giảm giá thuốc; quản lý chặt nhập khẩu; đồng thời củng cố hệ thống phân phối thuốc; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để kiểm soát xuất xứ, giá cả thuốc mua vào, bán ra ở mỗi nhà thuốc.

Việt Nam thuộc 5 nước có tốc độ già hóa dân số cao nhất thế giới

Đối với Nghị quyết về công tác dân số trong tình hình mới, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho biết, từng có thời gian dân số Việt Nam tăng quá nhanh, nên bằng nhiều biện pháp quyết liệt đã giúp Việt Nam đạt mức sinh thay thế 2,1 con vào năm 2006. Tuy nhiên, Việt Nam đạt đỉnh cao dân số vàng giai đoạn 2000-2007 nhưng đến 2011 đã bước vào già hóa dân số và hiện thuộc 5 nước có tốc độ già hóa dân số cao nhất thế giới. Với tốc độ này, đến 2045 Việt Nam sẽ trở thành nước có dân số già điển hình thế giới (trên 20% người 60 tuổi trở lên). Các nước trên thế giới chuyển sang dân số già mất 70-100 năm nhưng Việt Nam chỉ mất 18 năm.

Ảnh minh họa

Bên cạnh đó là thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh cũng ngày càng nghiêm trọng, hiện tại ở Việt Nam là mức 112 bé trai/100 bé gái, trong khi mức bình thường ở ngưỡng 103-107 bé trai/100 bé gái. Do đó, theo Phó Thủ tướng nếu giữ mức này, đến 2050 chúng ta sẽ thiếu 2,3 – 4,3 triệu phụ nữ.

Cũng về công tác dân số, Phó Thủ tướng nêu thực trạng đáng lưu ý, sau 10 năm, một số khu vực đang bắt đầu giảm sinh. Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long hiện chỉ còn 1,5 – 1,6 con, riêng TP. Hồ Chí Minh thấp nhất cả nước với tỷ lệ là 1,45 con. Trong khi trên thế giới, chưa có nước nào thành công trong việc đưa tỷ lệ sinh xuống quá ngưỡng tăng trở lại. Bài học từ châu Âu, nhiều nước cho tiền, bao cấp rất nhiều nhưng cũng không vực lên được.

Do đó, Phó Thủ tướng nêu rõ về công tác dân số trong tình hình mới sẽ chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển; chú trọng toàn diện về quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng và đặt trong mối quan hệ mật thiết với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh bảo đảm phát triển nhanh và bền vững. Tập trung duy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con), quy mô dân số 104 triệu người. Tỷ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống; tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt 22%; tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt 11%; tỷ số phụ thuộc chung đạt 49%; khuyến khích đẻ thêm tại những nơi có mức sinh thấp, vận động sinh ít tại những nơi đẻ nhiều, đảm bảo quy mô dân số 104 triệu vào 2030; chiều cao người Việt Nam 18 tuổi đối với nam đạt 168,5cm, nữ đạt 157,5cm. Chỉ số Phát triển con người (HDI) nằm trong nhóm 4 nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á…